Bài trích Tạp chí Khoa học thương mại
766 ấn phẩm có sẵn
Đang tải...
Những tài liệu tải lên gần đây
- Ấn phẩmCác yếu tố ảnh hưởng đến quyết định mua sản phẩm ruốc tôm hạ long mang thương hiệu tập thể: bằng chứng từ các đô thị lớn ở miền Bắc Việt Nam(Trường Đại học Thương mại, 2025) Vũ, Quỳnh Nam; Trần, Chí ThiệnVận dụng hàm Logit, bài báo đã phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định mua sản phẩm ruốc tôm mang thương hiệu tập thể Hạ Long của tỉnh Quảng Ninh dựa trên dữ liệu khảo sát từ 303 khách hàng mua sản phẩm ruốc tôm tại các cửa hàng, siêu thị và chợ truyền thống tại ba thị trường trọng điểm - thành phố Hạ Long tỉnh Quảng Ninh, thành phố Hà Nội và thành phố Hải Phòng. Kết quả nghiên cứu chỉ ra: thu nhập của khách hàng, sản phẩm được bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ, sản phẩm đảm bảo an toàn thực phẩm, thị trường tiêu thụ, giới tính, trình độ học vấn của người mua và giá cả sản phẩm là các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định mua sản phẩm ruốc tôm Hạ Long của khách hàng. Trong đó, sở hữu trí tuệ và an toàn thực phẩm là những biến mới được đưa vào mô hình nghiên cứu có tác động đáng kể tới quyết định mua hàng của người mua. Bài báo còn xây dựng được kịch bản về tác động cụ thể của từng yếu tố ảnh hưởng đến xác suất ra quyết định mua ruốc tôm Hạ Long của khách hàng tương ứng với từng mức xác suất mua hàng ban đầu cho trước.
- Ấn phẩmẢnh hưởng của chế độ làm việc linh hoạt đến cam kết của nhân viên với tổ chức: trường hợp các ngân hàng thương mại cổ phần trên địa bàn thành phố Nha Trang(Trường Đại học Thương mại, 2025) Hoàng, Trần Minh Nguyệt; Phạm, Thế Anh; Nguyễn, Thị Hồng ĐàoBài báo này nghiên cứu tác động của chế độ làm việc linh hoạt, cụ thể là hai hình thức thời gian làm việc linh hoạt và địa điểm làm việc linh hoạt đến sự cam kết của nhân viên tại các ngân hàng TMCP trên địa bàn thành phố Nha Trang. Nghiên cứu sử dụng phương pháp chọn mẫu thuận tiện. Dữ liệu khảo sát được thu thập từ 237 nhà quản lý và nhân viên làm việc tại các ngân hàng TMCP trên địa bàn thành phố Nha Trang. Phương pháp kiểm định Cronbach’s Alpha, phương pháp phân tích nhân tố khám phá (EFA) và phân tích hồi quy bội được sử dụng trong nghiên cứu. Kết quả nghiên cứu cho thấy, cả hai hình thức này đều có tác động tích cực đến cam kết tình cảm và cam kết đạo đức của nhân viên. Tuy nhiên, không có mối quan hệ đáng kể nào được xác định giữa hai hình thức làm việc linh hoạt này và cam kết duy trì. Dựa trên những phát hiện này, nghiên cứu đưa ra một số hàm ý quản trị thiết thực, giúp các ngân hàng TMCP tại Nha Trang nâng cao mức độ cam kết tình cảm và đạo đức của nhân viên, từ đó tăng cường sự gắn bó và hiệu quả trong quản lý nhân sự.
- Ấn phẩmẢnh hưởng của các yếu tố tới quản trị quan hệ đối tác trong thời đại công nghệ 4.0: nghiên cứu trường hợp tại Tập đoàn Xăng dầu Việt Nam(Trường Đại học Thương mại, 2025) Nguyễn, Trần Hưng; Phạm, Văn ThanhBài báo này tập trung nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả quản trị quan hệ đối tác trong thời đại 4.0, thông qua khảo sát thực nghiệm tại Tập đoàn Xăng dầu Việt Nam. Dựa trên mô hình nghiên cứu gồm 7 yếu tố, bao gồm: Đổi mới hợp tác, Chất lượng quan hệ đối tác, Sáng tạo giá trị, Dịch vụ tùy chỉnh cho đối tác, Sự tham gia của đối tác, Cơ chế quản trị chính thức và Cơ chế quản trị phi chính thức, bài báo tiến hành phân tích định lượng để xác định mức độ tác động của từng yếu tố đến hiệu quả quản trị quan hệ đối tác với kích thước mẫu điều tra 554 nhà quản trị, quản lý phụ trách quan hệ đối tác tại các doanh nghiệp đối tác của Tập đoàn xăng dầu Việt Nam tại 3 miền của Việt Nam. Kết quả cho thấy Dịch vụ tùy chỉnh cho đối tác, Sự tham gia của đối tác và Cơ chế quản trị phi chính thức đóng vai trò nền tảng, trong khi Đổi mới hợp tác và Chất lượng hợp tác là các yếu tố trung gian quan trọng thúc đẩy sự gắn kết giữa các giữa các doanh nghiệp đối tác với Tập đoàn xăng dầu Việt Nam. Thông qua đó, bài báo cũng đề xuất một số hàm ý dưới khía cạnh quản trị và khía cạnh hệ thống công nghệ thông tin nhằm nâng cao năng lực quản trị quan hệ đối tác của Tập đoàn xăng dầu Việt Nam trong bối cảnh số hóa đang là yêu cầu tất yếu khách quan tại Việt Nam.
- Ấn phẩmTác động của hiệp định thương mại và xuất khẩu thủy sản Việt Nam(Trường Đại học Thương mại, 2025) Dương, Hiển Hải Đăng; Nguyễn, Thanh Hà; Trương, Phan Nhựt Huế; Ngũ, Khánh Quỳnh; Nguyễn, Phúc CảnhNghiên cứu nhằm đánh giá tác động của Hiệp định Đối tác Kinh tế Toàn diện Khu vực (RCEP) lên xuất khẩu thủy sản của Việt Nam. Nghiên cứu ứng dụng mô hình trọng lực trong thương mại quốc tế và phương pháp khác biệt trong khác biệt (DID) để phân tích dữ liệu từ 99 quốc gia nhập khẩu thủy sản từ Việt Nam trong giai đoạn 2010-2023. Kết quả nghiên cứu cho thấy, khi Hiệp định RCEP có hiệu lực từ năm 2022 có tác động tích cực lên kim ngạch xuất khẩu thủy sản Việt Nam. Thêm vào đó, lợi thế thương mại của ngành thủy sản Việt Nam thể hiện qua Chỉ số Lợi thế so sánh hiệu dụng (RCA) cũng được cải thiện sau khi RCEP chính thức có hiệu lực. Kết quả nghiên cứu ủng hộ việc thúc đẩy tự do hóa thương mại và các chính sách mở cửa kinh tế để giúp thúc đẩy xuất khẩu thủy sản nói riêng và hoạt động xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam nói chung.
- Ấn phẩmChuyển đổi số và hành vi an sinh: Vai trò của công nghệ thông tin và truyền thông (ICT) trong mở rộng Bảo hiểm Xã hội tự nguyện cho lao động phi chính thức tại Việt Nam(Trường Đại học Thương mại, 2025) Nguyễn, Quỳnh Hoa; Vũ, Cương; Ngô, Quốc DũngNghiên cứu này nhằm lượng hóa tác động của công nghệ thông tin và truyền thông (ICT) đến xác suất tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện của lao động phi chính thức tại Việt Nam trong bối cảnh quốc gia đang đẩy mạnh chuyển đổi số. Với việc áp dụng mô hình hồi quy logit trên bộ dữ liệu điều tra lao động việc làm năm 2022-2023 tích hợp với bộ chỉ số ICT theo tỉnh năm 2021 - 2022, nghiên cứu đã phát hiện ra một nghịch lý: các địa phương có chỉ số năng lực công nghệ thông tin (ICT) phát triển hơn lại có xác suất tham gia BHXH tự nguyện thấp hơn. Kết quả này cho thấy sự cạnh tranh ngày càng tăng từ các sản phẩm tài chính - bảo hiểm tư nhân linh hoạt và sự thay đổi trong hành vi tài chính của lao động trong nền kinh tế chia sẻ. Các yếu tố khác bao gồm giới tính, độ tuổi, thu nhập, vùng miền cũng có tác động đáng kể đến khả năng tham gia BHXH tự nguyện. Dựa trên các phát hiện này, bài viết đề xuất một hệ thống giải pháp chính sách đa chiều, trong đó nhấn mạnh việc cải cách cấu trúc sản phẩm BHXH tự nguyện để nâng cao năng lực cạnh tranh, đồng thời triển khai chiến lược truyền thông số được cá nhân hóa theo giới tính, xây dựng mô hình “cộng tác viên số”, và giải quyết các rào cản về kinh tế - xã hội. Nghiên cứu khẳng định rằng một cách tiếp cận chính sách đồng bộ là yêu cầu tất yếu để mở rộng độ bao phủ an sinh xã hội trong kỷ nguyên số.
- Ấn phẩmVai trò điều tiết của chiến lược số trong mối quan hệ giữa lãnh đạo số và sự linh hoạt tổ chức đến mức độ sẵn sàng chuyển đổi số tại doanh nghiệp nhỏ và vừa(Trường Đại học Thương mại, 2025) Nguyễn, Danh Nam; Uông, Thị Ngọc LanTrong bối cảnh nền kinh tế số đang phát triển mạnh mẽ, chuyển đổi số trở thành xu hướng tất yếu và là thách thức lớn đối với các doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Việt Nam. Nghiên cứu nhằm mục đíchđánh giá tác động của lãnh đạo số và sự linh hoạt tổ chức đến mức độ sẵn sàng chuyển đổi số, đồng thời kiểm định vai trò trung gian của sự linh hoạt tổ chức và vai trò điều tiết của chiến lược số trong các mối quan hệ này. Thông qua 236 mẫu khảo sát và các phân tích định lượng trên phần mềm SPSS26. Kết quả cho thấy, lãnh đạo số và sự linh hoạt tổ chức đều có ảnh hưởng tích cực và trực tiếp đến mức độ sẵn sàng chuyển đổi sốcủa doanh nghiệp nhỏ và vừa. Bên cạnh đó, sự linh hoạt tổ chức đóng vai trò trung gian một phầntrong mối quan hệ giữa lãnh đạo số và sự sẵn sàng chuyển đổi số, yếu tốchiến lược số là yếu tố điều tiết tích cực, làm gia tăng đáng kể tác động của lãnh đạo số và sự linh hoạt tổ chức đến khả năng sẵn sàng chuyển đổi số.Dựa trên những kết quả phân tích, nghiên cứu đề xuất một số hàm ý quản trị nhằm giúp các doanh nghiệp nhỏ và vừa nâng cao mức độ sẵn sàng chuyển đổi số